Người-hướng-dẫn

Người-hướng-dẫn

Lời khuyên khi học guitar cổ điển

Cây đàn guitar lại cho ta rất nhiều thú vị và việc học guitar cũng vậy.  Lời khuyên cho bạn là hãy bắt đầu với cây đàn guitar cổ điển, tôi dám chắc rằng chỉ cần bạn động vào nó, khi bạn thưởng thức nó, gửi nó cho một số người, hay bạn muốn trở thành tay guitar chuyên nghiệp hoặc chỉ đơn giản là chơi guitar để thỏa mãn sự đam mê của mình,  những âm thanh từ cây đàn do chính bạn tạo ra sẽ mê hoặc chính bạn. Bao giờ khi học đàn guitar bạn cũng nên bắt đầu học đàn với cây đàn loại đó -hoc đàn guitar cổ điển.  hoặc  Ai cũng có thể trở thành người chơi guitar, bằng cách tự học hoặc người khác hướng dẫn. Nhưng để có thể hiểu nhanh chóng, bạn cần một số yếu tố sau:

1. Có mục tiêu rõ ràng

Đây là điều cần thiết với mọi công việc chứ không chỉ trong khi học đàn guitar cổ điển,  bởi nếu bạn có mục tiêu rõ ràng, từ đó việc định hướng của bạn sẽ tốt hơn và không bị xao nhãng, biết mình cần làm gì và làm như thế nào để đạt được mục tiêu đó.

Và nhớ khi đã có mục tiêu, quyết định thì phải thực hiện ngay đừng chần chừ.

2. Người hướng dẫn học guitar cổ điển tuyệt vời

Người hướng dẫn

Có thể nó sẽ tốn kém lắm nếu bạn chọn học ở các trường nhạc chuyên nghiệp hoặc đại học âm nhạc chuyên nghiệp, điều này thì không phải ai cũng có thể làm đươc.  Một số người dạy nhạc qua internet và họ sử dụng sách riêng của họ, thông thường những người này là miễn phí nhưng họ không có trách nhiệm phải dạy bạn đến nơi đến trốn. Có nhiều người nhận phí và bạn có quyền đòi hỏi họ dạy bạn.

Nhưng nếu muốn lên trình độ chơi nhanh chóng, bạn nên bỏ chi phí cơ hội để có được người thầy giáo tuyệt vời nhất. Bạn sẽ mất bao lâu để tự học, cũng từng đó công sức, người hướng dẫn bạn sẽ mất bao lâu để dạy bạn, anh ta biết rõ thời gian mà bạn học được là bao nhiêu và tính ra được mức phí mà bạn phải trả. Do đó, bạn có thể bắt đầu yên tâm với khoản phí mà bạn bỏ ra.

Khi đã có được người thầy tuyệt vời thì việc học đàn guitar cổ điển của bạn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với việc bạn tự học guitar cổ điển một mình, nó sẽ có quy củ hơn, nhanh chóng hơn rất nhiều.

3. Phần mềm, học guitar online

Phần mềm học onl

Có không ít bạn chọn cho mình cách học guitar cổ điển bằng cách học qua phần mềm, học online, nó mang lại cho bạn khá nhiều lợi ích như: tiết kiệm thời gian, chi phí, bạn có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, bất cứ khi nào bạn thích, bạn có thể học đi học lại nhiều lần mà không sợ tốn kém. Tôi đang nói về những người thực hiện tốt nhất, và cơ hội nhanh nhất để khám phá là những được là những gì? nhưng bạn cũng nên chú ý rằng bạn cần học tập một cách bài bản và thu thập các web hoặc video đó một cách bài bản thay vì nhảy cóc và ăn sẵn. Một số lượng tốt các bài hướng dẫn có thể được lấy từ một loạt các trang internet chuyên chơi guitar và có rất nhiều lời khuyên tuyệt vời mà có thể được tìm thấy trên Youtube.

4. Tìm kiếm một khoá học guitar cổ điển chuyên nghiệp

Khóa học Guitar

Khi bạn đang tìm kiếm để trả tiền cho một khóa học trên mạng hoặc tại trung tâm, có một số câu đố mà bạn sẽ cần phải tìm hiểu trước khi bạn quyết định như:

Bạn sẽ nhận được gì, thay đổi gì sau khi học xong khóa học đó

Chính xác là có những gì trong khóa học?

Giáo lý hay phương pháp từ người dạy guitar dùng để giáo dục?

Có nhiều lời chia sẻ từ các học viên hài lòng?

Bạn không biết nên chọn học đàn guitar cổ điển ở đâu cho chất lượng, bạn thế nhấn vào ĐÂY để xem thêm về khóa học đàn guitar chất lượng.

5. Thực hành và cố gắng hoàn thiện

Thực hành

Đây có thể nói là điều quan trọng nhất, bởi nếu bạn chỉ có lý thuyết không thì bạn không thể thành công được, khi học bất kỳ loại đàn nào cũng như học đàn guitar cổ điển bạn cần thực hành, thực hành liên tục, hãy tập đàn mọi lúc có thế, trong quá trình tự hoc bạn có thể ghi âm lại tiếng đàn của mình sau đó đưa cho giáo viên  dạy dàn guitar cổ điển của bạn để họ nhận xét, hoặc bạn có thể biểu diễn cho bạn bè, người thân rồi nhờ họ nhận xét. Kết hợp với sự chỉ dẫn của giáo viên việc hoc dan guitar lúc này với bạn không còn là học nữa mà nó đã trở thành niềm vui, sự đam mê, chỉ cần có đam mê thì sợ gì không thành công.

TRUNG TÂM TÀI NĂNG TRẺ

NHẬN DẠY ĐÀN PIANO, ORGANGUITARVIOLINTRỐNGLUYỆN THANH TẠI NHÀ

CẦN TƯ VẤN THÊM QUÝ PHỤ HUYNH LIÊN HỆ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217

WEB: http://daydanguitar.vn/

Email: giasutainangtre.vn@gmail.com, info@giasutainangtre.vn

Aria (tiếng Ý nguyên gốc có nghĩa là “khúc ca” hay “điệu ca”, “điệu nhạc”) là thuật ngữ chỉ một bài ca hoặc độc lập (như “Ah Perfido” của Beethoven và một số aria hòa nhạc của Mozart) hoặc là một phần của một tác phẩm lớn (opera, cantata, oratorio). Aria được thể hiện bằng một giọng solo có hoặc không có phần nhạc đệm và thường thể hiện cảm xúc mãnh liệt. Từ tiếng Ý có thể được diễn dịch như “kiểu” hay “phong cách” và trong thế kỉ 16 từ “aria” được dùng đối với những bản phổ nhạc đơn giản cho thơ ca nhẹ nhàng (chẳng hạn như ‘aria napoletana’). Các aria với nghĩa các giai điệu hoặc các cách phối cho ca khúc được in nhiều vào thế kỉ 16 và cả sang thế kỉ 17 trong những ấn phẩm khí nhạc và cả thanh nhạc.

Aria có một vị trí trung tâm trong opera, cantata và oratorio thời kỳ đầu. Phần lớn các aria opera Venice trước năm 1660 ở nhịp ba hay hỗn hợp giữa nhịp ba và nhịp đôi ; nhiều aria có bốn đoạn thơ hoặc nhiều hơn, mặc dù sau năm 1650 hai đoạn thơ trở thành chuẩn mực trong opera. Phần lớn aria có phần nhạc đệm liền mạch (continuo), với các đoạn điệp giữa các đoạn thơ ; một số ít aria từ những năm 1640 trở đi có những phần khí nhạc giữa các câu hát nhưng chúng vẫn còn chiếm số ít cho đến khi sang thế kỉ 18. Các aria gần cuối thế kỉ 17 theo hình thức ABB’ (dòng hay nhóm dòng cuối cùng được diễn đạt hai lần với âm nhạc tương tự, chỉ với một điệu chủ ở lần thứ hai), hay theo hình thức ABA (đôi khi là ABA’), nơi mà dòng hay cặp dòng đầu tiên được nhắc lại ở cuối. Loại này này trở thành aria da capo chuẩn mực (aria có tái hiện), chiếm ưu thế cho đến năm 1680. Ở đầu thế kỉ 18, phần nhạc đệm có thể thay đổi kết cấu hoặc cách phối khí ; aria hát liền chỉ trở nên ngày càng hiếm sau những năm 1720.

Đến lúc đó, các aria dài hơn được ưa chuộng. Với các nhà soạn nhạc được xem là những người khởi đầu của phong cách hiện đại thế kỉ 18 (Vinci, Hasse, Pergolesi…), các tỉ lệ trong cấu trúc da capo đã thay đổi. Phần giữa trở nên ngắn hơn và thường tương phản về nhịp và tốc độ ; phần mở rộng tương ứng của phần thứ nhất về sau chuyển sang thay thế da capo bằng dal segno, biểu thị sự trở lại không chỉ phần mở đầu mà còn cả vị trí sau đó nữa. Vào những năm 1760 và 1770 việc này tạo lối tới một cách phối hợp gần gũi trong đường nét với chương đầu của các giao hưởng và sonata đương thời, bằng một phần mở đầu kết thúc bằng âm át, một phần giữa như phần phát triển hay tương phản và phần trình bày lại của phần thứ nhất như một bản tóm tắt âm chủ. Những phong cách quan trọng của thời gian này là rondeau (rondo), ABACA, bắt đầu bằng một phần chậm và kết thúc bằng một phần allegro (AB hay ABAB). Đến năm 1780, những aria về sau (nguyên mẫu của cantabile-cabaletta đầu thế kỉ 19) đã được thay thế một cách rộng rãi bằng phong cách một nhịp kiểu Pháp. Các aria trong các vở opera hài được biến đổi về hình thức. Opera thế kỉ 19 tỏ ra giảm bớt số lượng các aria và tăng độ dài của chúng. Aria hình thức sonata tạo đường cho các hình thức nhiều nhịp và từ những năm 1830 có một sự chuyển biến từ phong cách bel canto cũ hơn sang một phong cách kịch tính hơn. Sự phát triển của Verdi minh họa cho sự dịch chuyển sang các cách xây dựng tự do và linh hoạt mà không thể dễ dàng được trích ra khỏi ngữ cảnh của chúng. Trong opera của Puccini các aria cũng có xu hướng trở thành một phần của kết cấu kịch và trong các opera thời kỳ thành thục của Wagner, các phần mở rộng cho giọng solo thường không thể được trích ra mà không cắt xén. Opera Ý có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các thể loại opera đương thời khác, gồm cả opera grand của Pháp và opera Slav, trong đó aria được thừa nhận như là hình thức tự nhiên của việc diễn tả. Tuy nhiên ảnh hưởng của Wagner lớn đến nỗi đến thế kỉ 20 các truyền thống cũ hơn hầu như đã bị loại bỏ. Trong opera Rake’s Progress (Sự hoàn lương của gã ăn chơi đàng điếm, 1951), Stravinsky đã phục hồi hình thức chứ không phải cái căn bản của aria thế kỉ 18 ; những xu thế gần đây đã hướng tới các hình thức hợp nhất ở mức độ cao của sân khấu nhạc kịch mà từ đó aria thường bị loại trừ.

Vào đầu thế kỉ 17 và thậm chí muộn hơn đến bộ tác phẩm Goldberg Variations của Bach, một “aria” đôi khi đóng vai trò như một bộ các biến tấu khí nhạc và các khúc nhạc gọi là “aria” (thường ở nhịp bourré, 2/2 hoặc 2/4)) phổ biến trong âm nhạc vũ khúc hòa tấu thời Baroque.

Âm nhạc cổ điển

Âm nhạc cổ điển là một thuật ngữ mang một nghĩa rộng và có vẻ không chuẩn xác để chỉ thể loại âm nhạc “bác học” được sáng tác và bắt nguồn từ truyền thống âm nhạc nghệ thuật châu Âu, đặc biệt là giai đoạn từ 1000 đến 1900. Một thời kỳ lịch sử âm nhạc từ 1550 đến 1825 của giai đoạn này được gọi là thời kỳ âm nhạc thịnh hành.

Các tác phẩm âm nhạc cổ điển được phân chia theo các giai đoạn chính sau:

Trung cổ: thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi thể loại Thánh ca (Chant), còn gọi là đồng ca nhà thờ hay Thánh ca Gregory.

Phục hưng: khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.

Baroque: khoảng 1600-1760, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.

Cổ điển: khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.

Lãng mạn, 1815-1910: là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.

Thế kỷ 20: thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện Đại và Hậu Hiện Đại.

âm nhạc đương đại: thuật ngữ thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.

VỀ NHẠC CỤ VÀ THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

NHẠC CỤ

Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc cổ điển được chia thành 4 nhóm chính: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Sự phân loại này chỉ có tính quy ước tương đối. Với đàn piano, ta có thể xếp nó vào bộ dây vì chính dây đàn tạo ra âm thanh, nhưng ta cũng có thể xếp nó vào bộ gõ bởi vì ta phải gõ vào các phím đàn, đến nay người ta vẫn còn chưa thống nhất về chuyện này và các loại nhạc cụ có bàn phím được xếp vào một nhóm riêng, nhóm keyboard.

Nếu chọn tiêu chí phân chia khác, ta sẽ có các phân nhóm khác. Ví dụ, ta có thể chia các nhạc cụ thành 3 nhóm theo cách thức tạo ra âm thanh: làm dao động một sợi dây (guitar, violin), làm dao động cột khí trong 1 cái ống rỗng (các loại kèn, sáo), làm dao động một vật thể cứng (đàn đá, trống).

Tuy nhiên, để đơn giản, ta sẽ sử dụng cách phân chia cổ điển quen thuộc: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Bộ dây (Strings) gồm có: violin, viola, cello, double-bass. Đó là 4 nhạc cụ dây chủ yếu của dàn nhạc cổ điển. Ngoài ra còn những nhạc cụ dây khác như harp, guitar…

Bộ gỗ (Woodwinds) gồm có: flute, oboe, clarinet và bassoon. (Ngày nay nhiều nhạc cụ trong bộ gỗ cũng được làm bằng kim loại nhưng vẫn thuộc về phân nhóm cũ.)

Bộ đồng (Brass) gồm có: French horn (kèn săn), trumpet, trombone và tuba.

Bộ gõ (Percussions) gồm tất cả những gì có thể gõ vào để tạo ra âm thanh.

Keyboard: xếp vào nhóm này là các nhạc cụ được chơi bằng cách gõ/nhấn vào bàn phím–clavichord, harpsichord, piano, organ.

THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

SONATA

Thuật ngữ sonata xuất hiện vào cuối thế kỷ 16 để chỉ các tác phẩm khí nhạc – nhằm phân biệt với thanh nhạc: nếu một bản nhạc được trình diễn bằng nhạc cụ, nó là sonata; nếu nó được hát lên, nó là cantata. Tuy nhiên khi dàn nhạc ngày càng lớn hơn và các thể loại âm nhạc ngày càng nhiều hơn thì cách phân biệt đơn giản trên không còn thích hợp nữa.

Ngày nay, sonata có nghĩa là một tác phẩm khí nhạc – có thể có một hoặc nhiều chương – viết cho 1 hay 2 (đôi khi 3) nhạc khí. (Ngoại lệ: các bản strings sonata của Rossini hay Mendelssohn, viết cho dàn đàn dây).

Thời kỳ Baroque, sonata thường có 4 chương. Sonata thời kỳ Cổ điển thường có 3 chương. Tới thời kỳ Lãng mạn, khi các nhà soạn nhạc trở nên cá nhân chủ nghĩa hơn, thì kết cấu một bản sonata cũng tự do hơn (điển hình là bản “Sonata in B minor của Liszt”, chỉ có 1 chương dài 30 phút).

Lưu ý: Sonata form (thể sonata): cần phải phân biệt bản sonata với thể sonata.

–  Bản sonata là một nhạc phẩm trọn vẹn, gồm 1 hoặc nhiều chương.

– Thể sonata là quy tắc cấu trúc âm nhạc trong chương đầu tiên của bản sonata hay symphony, gồm 3 phần: exposition, development và recapitulation (tạm dịch: giới thiệu chủ đề – phát triển mở rộng xoay quanh các chủ đề – tóm tắt, kết luận)

SYMPHONY

Thời Baroque, bất kỳ nhạc phẩm nào soạn cho dàn nhạc đều được gọi là symphony. Bắt đầu từ thời kỳ Cổ điển (giữa thế kỷ XVIII) symphony là một tác phẩm qui mô soạn cho dàn nhạc lớn, nhằm khai thác sự phong phú về âm sắc và cường dộ âm thanh của dàn nhạc cổ điển. Một bản symphony thường dài khoảng 20-45 phút, chia làm 4 chương.

Về sau, symphony được dùng cho mọi tác phẩm soạn cho dàn nhạc lớn với cấu trúc tự do hơn, không nhất thiết phải gồm 4 chương.

CONCERTO (concerti)

Concerto là tác phẩm viết cho một hay một nhóm nhạc cụ diễn tấu với dàn nhạc, kết hợp nghệ thuật biểu cảm và trình độ kỹ thuật điêu luyện của nghệ sĩ solo với sự phong phú về âm sắc và cường độ âm thanh của dàn nhạc. Giống như symphony, bản concerto dài khoảng 20 – 45 phút, có từ 1-5 chương nhưng phổ biến nhất là có 3 chương: chương đầu thường là dài nhất và kịch tính nhất, chương giữa chậm nhất và tình cảm nhất, chương cuối ngắn nhất và vui tươi nhất.

Concerto grosso: hình thức concerto thời kỳ Baroque, trong đó thành phần solo gồm một nhóm nhạc cụ hợp tấu chứ không phải một người.

Solo concerto: chỉ có một nhạc khí giữ vai trò độc tấu (solo), được ghi rõ trong tên nhạc phẩm. VD: Piano concerto, Concerto for Violin,…

Double concerto: có 2 nhạc khí thay phiên nhau độc tấu hoặc cùng song tấu đối đáp với dàn nhạc. VD: Double concerto của Brahms cho violin và cello.

Triple concerto: cũng như double concerto nhưng có 3 nhạc khí cùng chia xẻ vị trí solo. Ví dụ: Triple concerto của Beethoven viết cho violin, cello và piano.

Serenade có nguồn gốc từ tiếng Italia “sera” (buổi tối) và “serenata” (dạ khúc). Ban đầu dùng để chỉ những bản tình ca mà các chàng trai trẻ thường đứng hát, lúc chiều tà, dưới cửa sổ nhà cô gái mà mình theo đuổi. Về sau, thuật ngữ này được dùng để chỉ các bản nhạc viết cho dàn nhạc nhỏ, có tính chất giải trí và đặc biệt là để biểu diễn ngoài trời.

POLYPHONIC & HOMOPHONIC

Nghe bất kỳ đoạn nhạc nào, chúng ta cũng có thể gặp một trong các trường hợp sau: chỉ có một giai điệu, không có phụ họa; có nhiều giai điệu cùng lúc; có một giai điệu cùng hòa âm. Để mô tả các trường hợp đó người ta dùng khái niệm cấu trúc âm nhạc, nó biểu thị bao nhiêu lớp âm thanh bạn có thể nghe thấy cùng một lúc, bất kể đó là giai điệu hay hòa âm, và các lớp đó quan hệ với nhau như thế nào. Cấu trúc âm nhạc có 3 loại tương ứng với 3 trường hợp nêu trên.

Monophonic (đơn điệu): là cấu trúc chỉ có một giai điệu được thể hiện, có thể độc tấu hay hợp tấu. Polyphonic (phức điệu): là cấu trúc trong đó 2 hay nhiều giai điệu độc lập được trình tấu đồng thời, cạnh tranh nhau trong việc thu hút sự chú ý của người nghe. Để có thể thưởng thức trọn vẹn một tác phẩm có cấu trúc phức điệu, bạn có thể phải nghe nhiều lần, mỗi lần theo dõi một giai điệu.

Homophonic (chủ điệu): là cấu trúc trong đó có một giai điệu chính với phần hòa âm tô điểm cho chủ đề chính. Phần hòa âm này có thể biến đổi rất đa dạng, từ nhạc nền êm dịu đến những cơn sóng âm che lấp cả chủ đề chính. Khi phần hòa âm trỗi dậy tranh giành sự chú ý với chủ đề chính, cấu trúc âm nhạc trở thành vừa có tính chủ điệu vừa có tính phức điệu.

…VÀ NHỮNG CON SỐ

Có bao giờ bạn thắc mắc về ý nghĩa những ký tự chữ và số thường gặp ở cuối tên của nhiều tác phẩm nhạc cổ điển? Ví dụ như bản Symphony số 40 K550 của Mozart, hay bản Concerto Brandenburg số 1 BWV 1046 của Bach, hay bản Symphony số 6 Op.74 của Tchaikovsky? Nhìn có vẻ khó hiểu nhưng thực ra ý nghĩa của chúng rất đơn giản.

Mọi tác phẩm của các nhạc sỹ đều được lập chỉ mục và đánh số để biểu thị một cách tương đối thứ tự ra đời của chúng. Trong hầu hết trường hợp bạn sẽ gặp số chỉ mục Opus – viết tắt là Op. Opus là một từ la-tinh cổ có nghĩa là tác phẩm. Như vậy, bản Symphony số 6, Op.74 của Tchaikovsky là tác phẩm thứ 74 mà ông hoàn thành. Hệ thống số chỉ mục Opus được sử dụng cho các nhạc sỹ và tác phẩm từ thế kỷ 19 trở đi. Trước đó, không có một quy tắc nhất định nào.

Ngày nay, hàng trăm tác phẩm của J.S.Bach được tham chiếu theo một danh mục lập năm 1950 bởi Wolfgang Schmieder. Bản danh mục này có cái tên đọc trẹo cả lưỡi là: Thematisch Systemmatisches Verzeichnis der musikalischen Werke von Johann Sebastian Bach, may mắn sao nó được viết tắt thành Bach-Werke-Verzeichnis, đó chính là số chỉ mục BWV.

Trong những trường hợp khác, chữ viết tắt là tên của người đã tổng hợp, hệ thống hóa danh mục tác phẩm của một nhạc sỹ. Vài thập kỷ sau khi Mozart qua đời năm 1791, Ludwig Koechel đã bỏ nhiều thời gian và công sức để hệ thống hóa những tác phẩm của Mozart, do đó số chỉ mục K sau các tác phẩm này là lấy từ họ của Koechel.

Tuy nhiên cách này cũng gây nhầm lẫn khi những người sọan danh mục lại có chữ cái đầu họ giống nhau. Như các tác phẩm sọan cho đàn phím của Domenico Scarlatti cũng có số chỉ mục bắt đầu bằng chữ K nhưng không phải của Koechel mà là của Ralph Kirkpatrick – nhà âm nhạc học nổi tiếng thế kỷ 20.

Ngay cả số chỉ mục Opus không phải lúc nào cũng thể hiện đúng trình tự tác phẩm ra đời, bởi các số chỉ mục thường ứng với ngày tác phẩm được xuất bản lần đầu chứ không phải ngày nó được hòan thành. Vì vậy, nếu bạn hỏi ai đó: “Beethoven đã viết tác phẩm nào trước: bản Piano concerto số 1 Op.15 hay bản Piano concerto số 2 Op.19?”, ít người có thể trả lời đúng rằng: thực ra bản được gọi là “số 2” đã hòan thành trước nhưng lại xuất bản sau bản “số 1” .

Đến đây chắc bạn thấy những số K và Op. này thật rối rắm. Đừng lo, vì thực ra chúng chẳng quan trọng gì và không hề ảnh hưởng tới những cảm xúc mà âm nhạc mang lại cho bạn. Chúng chỉ có giá trị nếu bạn muốn lòe bạn bè chơi – thay vì bảo mình vừa nghe dàn nhạc giao hưởng Boston chơi bản symphony số 40 quen thuộc của Mozart, hãy nói tớ vừa nghe bản trình tấu tuyệt vời tác phẩm K550 và xem họ tròn xoe mắt như thế nào.