1. Các loại dây đàn:

a. Về chất liệu:
– Dây sắt (metal / steel strings):

Không phải nói gì thêm, tất cả các dây đều làm bằng kim loại. Đặc điểm nổi bật của dây sắt là tạo âm thanh sắc bén. Nghe trong và rất “bốc”.

– Dây nylon:

Gọi là dây nylon cho dễ nhận dạng, vì dây số 1, 2, 3 được làm bằng loại nhựa, nên ta gọi là dây nylon. Dây nylon mềm mại hơn so với dây sắt, do đó những ai mới tập chơi đàn guitar thường thích loại dây này hơn (vì mềm, đỡ đau tay). Dây nylon trầm, ấm, âm thanh rất “tròn”, thường được dùng khi chơi cổ điển, flamenco. Tuy nhiên, không thể nói rằng dây nylon đệm hát không được nhé. Vì tính chất trầm và ấm nên dây nylon khi đệm các nhạc buồn nghe rất “thấm”.

b. Về độ căng của dây (tension)
Có 3 loại tension: Low tension, Normal tension và Hard tension.

● Low Tension:

Trầm ấm, vang to và rất classical
Tremolo hay: Dùng loại Low tension thì tremolo sẽ đều đặn hơn
Vibrate sợi dây, nhéo dây dễ hơn, vì dây rất nhão
Đàn đánh được nhẹ hơn, good feeling
Ép dây, dây sẽ không bị nhoè qua dây khác

● Hard Tension:

 

Nhiều Treble, âm thanh nghe rõ ràng, âm thay bay đi như mũi tên, sắc bén hơn
Móc dây, ép dây, âm thanh nghe nhẹ nhàng và đầy đặn

● Normal Tension:

Trung tính nhất, nằm ở giữa Low và Hard Tension. Có thể nói dùng phổ thông nhất.

2. Cách chọn dây:

– Đàn mới : nên xử dụng loại Low tension trong 1 thời gian 6 tháng ~ 1 năm

– Student: Nên sử dụng Low Tension , và khi cách đánh thay đổi mạnh hơn thì đổi qua Normal, hoặc Hard tension ..

– Cách đánh đàn: Tuỳ theo cách đánh, nếu thích đánh mạnh thì nên dùng Hard Tension. Flamenco thì dùng Hard hoặc Extra Hard Tension . Nếu cách đánh thích hợp với loại Low, thì nên giữ Low để có chất classical . LowTension đánh rất nhẹ & nhão, nhưng có âm thanh rất la classic

– Cây đàn có âm thanh hơi nhỏ, không vang: Thay loại dây Low Tension thì âm thanh sẽ lớn hơn và vang hơn. Low Tension làm sợi dây rung chậm hơn và nghe nhiều bass, trầm hơn.

– Đàn Solo : Muốn solo nổi bật và nhiều treble thì nên dùng Hard Tension. Thể loại nhạc Flamenco thường dùng Hard Tension, để âm thanh treble được sắc bén

– Mục đích dùng đàn phổ thông: chọn loại Normal Tension, có thể đáp ứng yêu cầu âm thanh không quá khắc khe của bạn.

3. Các nhãn hiệu tốt:

Những loại sau đây thường đắt gấp đôi dây bình thường . Giá bắt đầu từ $11~25

Best Brand là loại Savarez, Hanabach. Những brands này xử dụng loại hợp chất đặc biệt nên khi đánh đàn và practice thì sẽ rất thích. Đặc Biệt Nhất vẫn là Savarez, sau khi đã dùng Savarez hoăc Gaili, thì sẽ không muốn dùng brand nào khác . Savarez không nên dùng trong Recording, chỉ dùng cho live hoặc practice

La Bella, D’ Adairo J51 loại được dùng cho Recording : Dây 4,5,6 to hơn bình thường, với lớp coating đặc biệt cho cả 6 sợi dây, nên không có tiếng sột soạt khi kéo dây đàn . Âm thanh nghe rất là Classical , và đánh rất nhẹ nhàng , Nhưng âm thanh thiếu treble
3 sợi dây 4,5,6 được dùng trong recording string set, thường trám 1 lớp hợp chất mỏng để giảm tiếng sột soạt rất nhiều ..

D’ Addario bình thường: khoảng 6~12$ , dùng cũng rất hay, nhất là khi dây đàn còn mới.

Một điều rất thích khi dùng D’adairo là code chống giả. Khi mua D’Addairo (bất cứ loại dây nào), phía trong bao luôn có code. Dùng code ấy đăng nhập vào trang chủ của D’Addairo để biết rằng dây có “xịn” hay không (an tâm hơn nhỉ, bỏ gần cả chục $ để mua 1 bộ dây mà)

 

TƯ VẤN HỌC ĐÀN TẠI NHÀ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217 CÔ MƯỢT

 

“Các dòng nhạc hiện nay .”

Tìm hiểu về các loại nhạc Pop, Dance, Country, Blues, Jazz, Flamenco…

Mỗi thể loại nhạc sẽ có những đặc trưng riêng. Khi nghe nhạc và thưởng thức âm nhạc, những kiến thức âm nhạc này hy vọng sẽ làm cho các bạn có được sự cảm nhận đúng đắn và sâu sắc hơn.

  1. Nhạc pop :

Nhạc Pop là một thể loại của nhạc đương đại và rất phổ biến trong làng nhạc đại chúng. Thuật ngữ này không cho biết một cách chính xác về thể loại nhạc hay âm thanh riêng lẻ nào mà nghĩa của nó lại rất khác nhau phụ thuộc vào từng khoảng thời gian trong lịch sử của nó và từng địa điểm khác nhau trên thế giới. Trong làng nhạc đại chúng thì nhạc Pop thường được phân biệt với các thể loại khác nhờ một số đặc điểm về phong cách nghệ thuật như nhịp nhảy hay nhịp phách, những giai điệu đơn giản dễ nghe, cùng với một số đoạn trong bài hát được lặp đi lặp lại. Ca từ trong nhạc Pop thường nói tới tình yêu, xúc cảm và sự nhảy múa. Là loại nhạc phổ biến (popular) hiện nay ở hầu hết các ca khúc như của Celine Dion, Madonna, Frank Sinatra, Brandy…Pop chú trọng nhiều hơn Rock về giai điệu và nhịp điệu, âm thanh cũng mềm hơn.

  1. Nhạc Country (đồng quê)

Trước hết, có thể hiểu ngay “nhạc Country” đó là nhạc đồng quê. Khi âm thanh và giai điệu nổi lên, người ta có thể hình dung đến những đồng cỏ bạc ngàn xanh mướt – với những chàng cao bồi miền Tây lãng du. Nói đúng hơn, nhạc Country gắn liền với một nển văn hoá cao bồi mà ở Mỹ chính là quê hương. Nhạc đồng quê ra đời ở Mỹ dựa trên nhạc thượng du miền Nam, chịu nhiều ảnh hưởng từ những hệ thống nhạc khác như Blues, Jazz. Loại nhạc này thường có giai điệu trầm buồn.

Nguồn gốc của chúng xuất phát từ những người dân Anh nhập cư đến Mỹ, họ mang theo những ca khúc Ballad Celtic với phần lời theo lối kể chuyện mộc mạc, bình dân. Nói khác đi, cội nguồn của nhạc nhạc country chính là những bài dân ca mà những người dân nhập cư từ Anh, Scotland, Iraland đã mang đến vùng núi Appalanchian ở miền Nam Mỹ vào thế kỷ 18 – 19. Dòng nhạc thanh cảnh, không cần nhiều nhạc cụ, đôi khi chỉ là một cây guitar; người ta vẫn say sưa hát. Nội dung đơn giản, chủ đề thường gặp ở nhạc Country là những triết lý nhỏ về cuộc sống, cuộc đời của những người lao động, sự cô đơn hay những niềm tin và các mối quan hệ trong gia đình.

Ngày nay, để đáp ứng thị hiếu của người nghe, các nhà sản xuất thường pha trộn giữa Country với nhạc Pop và Rock đã phần nào làm cho người nghe, nhất là giới trẻ, khó có thể nhận và phân biệt từng loại nhạc. Tuy nhiên, cũng phải nhờ họ mà nhạc nhạc Country không bị rơi vào sự lãng quên.

www.dayguitar.edu.vn

III. Nhạc Rock :

Còn gọi là Rock’N’ Roll, do Elvis Presley khai sinh từ thập kỷ 50.

Dựa trên tiết tấu của ca ba loại nhạc trước đó (Blues, Jazz, Country) nhưng Rock lại có tiết tấu mạnh và nhanh, thường sử dụng các loại nhạc cụ điện tử.

Rock chú ý tới hiệu ứng âm thanh của các nhạc cụ hơn là giọng hát.

“Folk rock” (rock dân ca) là loại rock nhẹ giống như “slow-rock”, “soft-rock”…

“Hard rock” là loại Rock nặng với tiết tấu dữ dội và âm thanh cực lớn, chát chúa. Cùng thể loại này là “heavy rock”, “heavy metal”.

Tất cả những ban nhạc nổi tiếng thập kỷ 60 đều bắt đầu bằng nhạc rock and roll. Đó là Beatles, Rolling Stones, The Kinds, The Who, Manfred Mann, The Animals.

  1. Nhạc R&B

R&B là viết tắt của Rhythm and Blues. Cũng có thể nói R&B là một nhánh rẽ lớn của thể loại nhạc Blues đã có từ trước đó khá lâu. R&B, thể loại nhạc có nguồn gốc từ cộng đồng người Phi da đen này đã phát sinh từ đầu thế kỉ 20 và trở thành một loại nhạc phổ biến trên nhiều quốc gia vào khoảng thập niên 40.

Đó cũng là thời gian những người châu Phi bị bắt đưa sang châu Mỹ sống tập trung tại miền Nam và sau đó họ đã có những cuộc chuyển cư hàng loạt đến vùng Trung, Bắc, Tây Mỹ. R&B đã cùng họ phát triển rộng ở khắp châu Mỹ. Những bản ghi âm chính thức đầu tiên được thực hiện vào năm 1938 và cho đến thập kỉ 60 người ta đã biết nhiều đến những cái tên như B.B. King, James Brown… Cũng trong khoảng thời gian đó, R&B phân hoá thành 3 luồng chính: Chicago Soul, Motown Sound và Southern Style phát triển khá mạnh mẽ. Thập niên 60 cũng có thể gọi là thời kì vàng son của thể loại nhạc này.

  1. Dance

Nhạc khiêu vũ (hay còn gọi là nhạc dance, nhạc nhảy, nhạc sàn) là nhạc thường dùng để nhảy, múa là chính nhưng người ta cũng có thể dùng để nghe, lồng ghép…

  1. Nhạc Jazz

Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

VII. Nhạc Blues

Cùng với nhạc Jazz, nhạc Blues có nguồn gốc từ những bài ca lao động, tôn giáo và dân ca của người Mỹ da đen được người Mỹ da đen khởi xướng vào đầu thế kỷ 20. Nhạc Blues khá buồn, vì thế nên có tên Blues (buồn) Nhạc Jazz thường được biểu diễn bằng kèn, giai điệu réo rắt.

Khởi nguồn của Blues không đơn giản một cách chắc chắn như là đã được khắc lên đá. Trong một vài năm, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc… và thậm chí là bất cứ nét nhạc nào do các nghệ sỹ viết ra.

Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues

Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa.Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này.

Blues được sử dụng nhiều trong tất cả các loại nhạc phổ thông.

IIX. Flamenco

Flamenco là một loại hình nghệ thuật mang đậm phong cách đặc trưng của nền văn hoá Tây Ban Nha, tổng hợp từ ba thể loại : Cante, bài hát; Baile, vũ điệu, và Guitarra, nhạc công chơi guitar. Khi mới nghe Flamenco, ta dễ lầm tưởng đó chỉ là những giai điệu đơn giản được hoà trong tiếng gõ nhịp cùng những vũ nữ với bộ váy xoè nhiều lớp, nhưng thật sự đây là loại hình nghệ thuật độc đáo và tràn đầy rung cảm nghệ thuật.

Những người Gyspi ở miền Nam Tây Ban Nha được coi là người sáng tạo ra, tuy nhiên những bài hát và điệu nhảy dân gian Tây Ban Nha, cùng sự giao thoa của các nền văn hoá trong nhiều thế kỷ đã góp phần trực tiếp và gián tiếp cho sự hình thành của Flamenco. Flamenco sơ kỳ mới chỉ là những âm thanh cùng tiếng vỗ tay theo giai điệu, sau này mới có thêm biểu diễn guitar.Khác với vũ đạo Châu Âu, Flamenco mang hơi hướng phương Đông. Vũ công qua động tác và thần thái phải truyền tải được những ý tưởng, tình cảm và nội dung của ca khúc. Những nhịp điệu được kết hợp cùng tiếng gõ chân kỹ thuật, vì vậy giày nhảy của vũ công thường là loại đặc biệt với nhiều đinh tán ở đế giày. Y phục của người vũ nữ là những bộ váy xoè nhiều lớp, ôm sát người để tôn lên dáng điệu yêu kiều, uyển chuyển.

 

TƯ VẤN HỌC ĐÀN TẠI NHÀ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217 CÔ MƯỢT

Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh (chất giọng) để diễn đạt tình cảm, xúc cảm của con người. Nó được chia ra hai thể loại chính: thanh nhạc và khí nhạc.

Thanh nhạc là âm nhạc dựa trên lời hát thể hiện rõ ý tưởng và tình cảm. Còn khí nhạc là âm nhạc dựa trên âm thanh thuần tuý của các nhạc cụ, nên trừu tượng, gây cảm giác và sự liên tưởng.

Ký hiệu âm nhạc là toàn bộ các dấu hiệu cũng như chữ viết được dùng để ghi lại âm thanh với các đặc tính của chúng. Môn ký âm là ghi âm thanh lại bằng các ký hiệu âm nhạc trên giấy và môn xướng âm là đọc lên những ký hiệu âm nhạc (đã được ký âm) đúng cao độ và trường độ của chúng.

Có các ký hiệu âm nhạc và khoá nhạc dùng để quy định cao độ, trường độ, cường độ cho bản nhạc. Có nhiều khoá nhạc khác nhau nhưng khoá sol là phổ biến nhất. Đôi khi cần thiết, người ta thường “dịch” một bản nhạc của ngôn ngữ khoá sol sang những khoá nhạc khác và ngược lại. Trong nhiều nền văn hóa, âm nhạc được xem là một phần quan trọng của cuộc sống.

 

TƯ VẤN HỌC ĐÀN TẠI NHÀ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217 CÔ MƯỢT

 

www.daydangutiar.vn

Có bao nhiêu dòng nhạc, cách phân biệt và ví dụ

“Các dòng nhạc hiện nay .”

Các dòng nhạc hiện nay .Không có loại nhạc nào là A&B đâu !? chỉ có dòng nhạc. R&B đọc như A&B theo tiếng việt có lẽ bạn hiểu nhầm.

R&B viết tắt của Rhythm and blues xuất hiện tại Mỹ những năm 1949. Nhạc Blues có nguồn gốc từ những điệu hát của miền tây Châu Phi được các người nô lệ da đen mang sang Bắc Mỹ, đặc biệt là vùng châu thổ sông Mississippi(Mississippi Delta) tại miền nam Hoa Kỳ. Tại vùng đất mới, điệu nhạc thô sơ này được phát triển thêm với các nhạc khí mới và trở nên rất phổ thông trong các cộng đồng nô lệ người Mỹ gốc Phi khi họ tụ tập với mục đích làm việc, gặt hái, tín ngưỡng hay tiêu khiển.

Dần dần nhạc Blues được khám phá bởi các ông chủ của những người nô lệ này, và từ đó nó đã có ảnh hưởng đến hầu hết các loại nhạc tại Bắc Mỹ: nhạc Jazz,Big Bands,Ragtime,Rhythm and Blues(R&B), Rock and Roll

Nhạc hoà tấu không lời:là nhạc ko có lời hát chỉ toàn là tiếng của những loại nhạc cụ.. được phối lại cho dễ nghe hơn!

Nhạc Giao hưởng: Giao hưởng (symphony) là các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng ở các thành phần cấu trúc lớn nhỏ, đa dạng gồm các nhạc cụ chính: bộ dây (violin, viola, cello, contrabass), bộ gỗ (sáo, oboe, clarinet, bassoon), kèn đồng (trumpet, trombone, tuba, fagotte) và bộ gõ (trống nồi). Nói một cách dễ hiểu nhất, nhạc giao hưởng là một dạng sonata viết cho cả dàn nhạc. Tức là cả dàn nhạc giao hưởng được xem như một chủ thể thống nhất, không chia thành chính, phụ, đệm… Giao hưởng có thể nói nặng và khủng hơn hòa tấu.

Nhạc cổ điển: là dòng nhạc biểu diễn bằng piano

Nhạc đồng quê( Nhạc country ): Trước hết, có thể hiểu ngay “nhạc country” là nhạc đồng quê, nó được bắt nguồn từ những bài hát dân ca với phần lời theo lối kể chuyện mộc mạc, bình dân. Nhạc Latin: Nhắc đến âm nhạc Latinh người ta không thể nào không nhắc đến những giai điệu sôi động của “Cha – cha – cha”, “Rumba”, “Salsa”, “Plena”, “Bolenos”… Âm nhạc Latinh là một thứ gì đó rất cuồng nhiệt, cháy bỏng nhưng không kém phần nồng nàn. Khi các vũ công trên sân khấu biểu diễn dường như dưới những bàn tiệc, không khí như nổ tung, các thực khách ai đấy cùng đứng lên, nhảy theo điệu nhạc, hò reo…

Nhạc pop: Trong giới chuyên môn có thể cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong cách định nghĩa về nhạc Pop và định hình rõ thể loại của dòng nhạc này. Nhưng đa số đều có những lí luận về cách nhận biết nhạc Pop – tưởng như rất phức tạp nhưng thực ra các nhạc sĩ và ca sĩ đều cho rằng: Thể loại nhạc Pop đã được sử dụng khá lâu trong nền âm nhạc của Việt Nam. Bản thân từ “nhạc trẻ”, sự trẻ trung và hào hứng của các loại nhạc trẻ này làm cho giới sáng tác lao vào cuộc. Một giai đoạn ngắn chuyển hoá nhạc Việt đương thời ra đời với cái tên nhạc cải cách hay còn gọi là tân nhạc, đó là một khái niệm riêng của nhạc Việt để chỉ dòng nhạc Pop đại chúng. Như vậy có nghĩa khi danh từ nhạc Pop ra đời thì nhạc Việt đã định hình cho nó theo xu hướng như dòng nhạc trẻ, nội dung của những ca khúc nghiêng về phong cách nhẹ nhàng êm ái và trữ tình

Pop balat: Nguyên thủy, ballad bắt nguồn từ dòng nhạc country và folk nổi tiếng vì giai điệu chậm… thong thả (thường được độc tấu “ta và đàn” như piano, guitar or violin). Có lẽ ballad nên tự hào vì chính nó là 1 trong những loại nhạc dùng từ ngữ “sang nhất” – ko hoa mỹ, nhưng đủ để tạo cảm hứng… phê cho người nghe Tuy nhiên, ngày nay ballad đã bị pha trộn bởi nhiều thể loại nhạc khác (rock ballad, ballad opera, folk ballad) nhưng pop ballad vẫn được chú ý nhất.

Nhạc rock: Nhạc rock là một thể loại âm nhạc thường được trình diễn bởi các nhạc cụ chính như ghita, ghita bass và trống. Bên cạnh, một số phong cách nhạc rock còn sử dụng các nhạc cụ dùng phím như organ, piano. Một số nhạc cụ khác thỉnh thoảng cũng được sử dụng trong nhạc Rock như harmonica, vĩ cầm, kèn flute, banjo, kèn melodica và trống timpani. Sự hình thành của nhạc rock được bắt đầu vào những năm của thập niên 1940 và thập niên 1950 với thể loại nhạc rock ‘n roll và phong cách rockability, được phát triển từ giữa nhạc blues, nhạc country và một số thể loại nhạc khác. Từ khi hình thành, nhạc rock liên tục phát triển và đi sâu vào lòng người hâm mộ.

Rock&roll thuở ban đầu được định hình nên từ rất nhiều dòng nhạc: blues nguyên thủy, R&B, nhạc đồng quê, pop truyền thống, jazz, nhạc dân gian. Tất cả các dòng này cùng kết hợp một cách đơn giản, dựa chủ yếu trên kết cấu một bản blues nhanh, nhịp nhàng và dễ thuộc. Vào những năm cuối của thập niên 1960, nhạc rock pha trộn với nhạc folk tạo thành folk rock, với blues tạo nên blue rock và cùng jazz, làm nên jazz-rock fusion, và dứt khỏi ràng buộc thời gian tạo nên “rock phiêu phiêu” (psychedelic rock).

Trong thập niên 1970, rock đã sát nhập chặt chẽ nhiểu thể loại soul, funk và nhạc latin. Cũng trong thập niên này, rock phát triển về số lượng thể loại nhánh, như soft rock, heavy metal, hark rock, progressive rock và punk rock. Các thể loại nhánh nổi lên trong thập niên 1980 gồm synthpop, hardcore punk và alternative

Dạy đàn guitar tại nhà: www.daydanguitar.vn

 

TƯ VẤN HỌC ĐÀN TẠI NHÀ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217 CÔ MƯỢT

Aria (tiếng Ý nguyên gốc có nghĩa là “khúc ca” hay “điệu ca”, “điệu nhạc”) là thuật ngữ chỉ một bài ca hoặc độc lập (như “Ah Perfido” của Beethoven và một số aria hòa nhạc của Mozart) hoặc là một phần của một tác phẩm lớn (opera, cantata, oratorio). Aria được thể hiện bằng một giọng solo có hoặc không có phần nhạc đệm và thường thể hiện cảm xúc mãnh liệt. Từ tiếng Ý có thể được diễn dịch như “kiểu” hay “phong cách” và trong thế kỉ 16 từ “aria” được dùng đối với những bản phổ nhạc đơn giản cho thơ ca nhẹ nhàng (chẳng hạn như ‘aria napoletana’). Các aria với nghĩa các giai điệu hoặc các cách phối cho ca khúc được in nhiều vào thế kỉ 16 và cả sang thế kỉ 17 trong những ấn phẩm khí nhạc và cả thanh nhạc.

Aria có một vị trí trung tâm trong opera, cantata và oratorio thời kỳ đầu. Phần lớn các aria opera Venice trước năm 1660 ở nhịp ba hay hỗn hợp giữa nhịp ba và nhịp đôi ; nhiều aria có bốn đoạn thơ hoặc nhiều hơn, mặc dù sau năm 1650 hai đoạn thơ trở thành chuẩn mực trong opera. Phần lớn aria có phần nhạc đệm liền mạch (continuo), với các đoạn điệp giữa các đoạn thơ ; một số ít aria từ những năm 1640 trở đi có những phần khí nhạc giữa các câu hát nhưng chúng vẫn còn chiếm số ít cho đến khi sang thế kỉ 18. Các aria gần cuối thế kỉ 17 theo hình thức ABB’ (dòng hay nhóm dòng cuối cùng được diễn đạt hai lần với âm nhạc tương tự, chỉ với một điệu chủ ở lần thứ hai), hay theo hình thức ABA (đôi khi là ABA’), nơi mà dòng hay cặp dòng đầu tiên được nhắc lại ở cuối. Loại này này trở thành aria da capo chuẩn mực (aria có tái hiện), chiếm ưu thế cho đến năm 1680. Ở đầu thế kỉ 18, phần nhạc đệm có thể thay đổi kết cấu hoặc cách phối khí ; aria hát liền chỉ trở nên ngày càng hiếm sau những năm 1720.

Đến lúc đó, các aria dài hơn được ưa chuộng. Với các nhà soạn nhạc được xem là những người khởi đầu của phong cách hiện đại thế kỉ 18 (Vinci, Hasse, Pergolesi…), các tỉ lệ trong cấu trúc da capo đã thay đổi. Phần giữa trở nên ngắn hơn và thường tương phản về nhịp và tốc độ ; phần mở rộng tương ứng của phần thứ nhất về sau chuyển sang thay thế da capo bằng dal segno, biểu thị sự trở lại không chỉ phần mở đầu mà còn cả vị trí sau đó nữa. Vào những năm 1760 và 1770 việc này tạo lối tới một cách phối hợp gần gũi trong đường nét với chương đầu của các giao hưởng và sonata đương thời, bằng một phần mở đầu kết thúc bằng âm át, một phần giữa như phần phát triển hay tương phản và phần trình bày lại của phần thứ nhất như một bản tóm tắt âm chủ. Những phong cách quan trọng của thời gian này là rondeau (rondo), ABACA, bắt đầu bằng một phần chậm và kết thúc bằng một phần allegro (AB hay ABAB). Đến năm 1780, những aria về sau (nguyên mẫu của cantabile-cabaletta đầu thế kỉ 19) đã được thay thế một cách rộng rãi bằng phong cách một nhịp kiểu Pháp. Các aria trong các vở opera hài được biến đổi về hình thức. Opera thế kỉ 19 tỏ ra giảm bớt số lượng các aria và tăng độ dài của chúng. Aria hình thức sonata tạo đường cho các hình thức nhiều nhịp và từ những năm 1830 có một sự chuyển biến từ phong cách bel canto cũ hơn sang một phong cách kịch tính hơn. Sự phát triển của Verdi minh họa cho sự dịch chuyển sang các cách xây dựng tự do và linh hoạt mà không thể dễ dàng được trích ra khỏi ngữ cảnh của chúng. Trong opera của Puccini các aria cũng có xu hướng trở thành một phần của kết cấu kịch và trong các opera thời kỳ thành thục của Wagner, các phần mở rộng cho giọng solo thường không thể được trích ra mà không cắt xén. Opera Ý có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các thể loại opera đương thời khác, gồm cả opera grand của Pháp và opera Slav, trong đó aria được thừa nhận như là hình thức tự nhiên của việc diễn tả. Tuy nhiên ảnh hưởng của Wagner lớn đến nỗi đến thế kỉ 20 các truyền thống cũ hơn hầu như đã bị loại bỏ. Trong opera Rake’s Progress (Sự hoàn lương của gã ăn chơi đàng điếm, 1951), Stravinsky đã phục hồi hình thức chứ không phải cái căn bản của aria thế kỉ 18 ; những xu thế gần đây đã hướng tới các hình thức hợp nhất ở mức độ cao của sân khấu nhạc kịch mà từ đó aria thường bị loại trừ.

Vào đầu thế kỉ 17 và thậm chí muộn hơn đến bộ tác phẩm Goldberg Variations của Bach, một “aria” đôi khi đóng vai trò như một bộ các biến tấu khí nhạc và các khúc nhạc gọi là “aria” (thường ở nhịp bourré, 2/2 hoặc 2/4)) phổ biến trong âm nhạc vũ khúc hòa tấu thời Baroque.

Âm nhạc cổ điển

Âm nhạc cổ điển là một thuật ngữ mang một nghĩa rộng và có vẻ không chuẩn xác để chỉ thể loại âm nhạc “bác học” được sáng tác và bắt nguồn từ truyền thống âm nhạc nghệ thuật châu Âu, đặc biệt là giai đoạn từ 1000 đến 1900. Một thời kỳ lịch sử âm nhạc từ 1550 đến 1825 của giai đoạn này được gọi là thời kỳ âm nhạc thịnh hành.

Các tác phẩm âm nhạc cổ điển được phân chia theo các giai đoạn chính sau:

Trung cổ: thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi thể loại Thánh ca (Chant), còn gọi là đồng ca nhà thờ hay Thánh ca Gregory.

Phục hưng: khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.

Baroque: khoảng 1600-1760, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.

Cổ điển: khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.

Lãng mạn, 1815-1910: là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.

Thế kỷ 20: thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện Đại và Hậu Hiện Đại.

âm nhạc đương đại: thuật ngữ thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.

VỀ NHẠC CỤ VÀ THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

NHẠC CỤ

Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc cổ điển được chia thành 4 nhóm chính: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Sự phân loại này chỉ có tính quy ước tương đối. Với đàn piano, ta có thể xếp nó vào bộ dây vì chính dây đàn tạo ra âm thanh, nhưng ta cũng có thể xếp nó vào bộ gõ bởi vì ta phải gõ vào các phím đàn, đến nay người ta vẫn còn chưa thống nhất về chuyện này và các loại nhạc cụ có bàn phím được xếp vào một nhóm riêng, nhóm keyboard.

Nếu chọn tiêu chí phân chia khác, ta sẽ có các phân nhóm khác. Ví dụ, ta có thể chia các nhạc cụ thành 3 nhóm theo cách thức tạo ra âm thanh: làm dao động một sợi dây (guitar, violin), làm dao động cột khí trong 1 cái ống rỗng (các loại kèn, sáo), làm dao động một vật thể cứng (đàn đá, trống).

Tuy nhiên, để đơn giản, ta sẽ sử dụng cách phân chia cổ điển quen thuộc: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Bộ dây (Strings) gồm có: violin, viola, cello, double-bass. Đó là 4 nhạc cụ dây chủ yếu của dàn nhạc cổ điển. Ngoài ra còn những nhạc cụ dây khác như harp, guitar…

Bộ gỗ (Woodwinds) gồm có: flute, oboe, clarinet và bassoon. (Ngày nay nhiều nhạc cụ trong bộ gỗ cũng được làm bằng kim loại nhưng vẫn thuộc về phân nhóm cũ.)

Bộ đồng (Brass) gồm có: French horn (kèn săn), trumpet, trombone và tuba.

Bộ gõ (Percussions) gồm tất cả những gì có thể gõ vào để tạo ra âm thanh.

Keyboard: xếp vào nhóm này là các nhạc cụ được chơi bằng cách gõ/nhấn vào bàn phím–clavichord, harpsichord, piano, organ.

THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

SONATA

Thuật ngữ sonata xuất hiện vào cuối thế kỷ 16 để chỉ các tác phẩm khí nhạc – nhằm phân biệt với thanh nhạc: nếu một bản nhạc được trình diễn bằng nhạc cụ, nó là sonata; nếu nó được hát lên, nó là cantata. Tuy nhiên khi dàn nhạc ngày càng lớn hơn và các thể loại âm nhạc ngày càng nhiều hơn thì cách phân biệt đơn giản trên không còn thích hợp nữa.

Ngày nay, sonata có nghĩa là một tác phẩm khí nhạc – có thể có một hoặc nhiều chương – viết cho 1 hay 2 (đôi khi 3) nhạc khí. (Ngoại lệ: các bản strings sonata của Rossini hay Mendelssohn, viết cho dàn đàn dây).

Thời kỳ Baroque, sonata thường có 4 chương. Sonata thời kỳ Cổ điển thường có 3 chương. Tới thời kỳ Lãng mạn, khi các nhà soạn nhạc trở nên cá nhân chủ nghĩa hơn, thì kết cấu một bản sonata cũng tự do hơn (điển hình là bản “Sonata in B minor của Liszt”, chỉ có 1 chương dài 30 phút).

Lưu ý: Sonata form (thể sonata): cần phải phân biệt bản sonata với thể sonata.

–  Bản sonata là một nhạc phẩm trọn vẹn, gồm 1 hoặc nhiều chương.

– Thể sonata là quy tắc cấu trúc âm nhạc trong chương đầu tiên của bản sonata hay symphony, gồm 3 phần: exposition, development và recapitulation (tạm dịch: giới thiệu chủ đề – phát triển mở rộng xoay quanh các chủ đề – tóm tắt, kết luận)

SYMPHONY

Thời Baroque, bất kỳ nhạc phẩm nào soạn cho dàn nhạc đều được gọi là symphony. Bắt đầu từ thời kỳ Cổ điển (giữa thế kỷ XVIII) symphony là một tác phẩm qui mô soạn cho dàn nhạc lớn, nhằm khai thác sự phong phú về âm sắc và cường dộ âm thanh của dàn nhạc cổ điển. Một bản symphony thường dài khoảng 20-45 phút, chia làm 4 chương.

Về sau, symphony được dùng cho mọi tác phẩm soạn cho dàn nhạc lớn với cấu trúc tự do hơn, không nhất thiết phải gồm 4 chương.

CONCERTO (concerti)

Concerto là tác phẩm viết cho một hay một nhóm nhạc cụ diễn tấu với dàn nhạc, kết hợp nghệ thuật biểu cảm và trình độ kỹ thuật điêu luyện của nghệ sĩ solo với sự phong phú về âm sắc và cường độ âm thanh của dàn nhạc. Giống như symphony, bản concerto dài khoảng 20 – 45 phút, có từ 1-5 chương nhưng phổ biến nhất là có 3 chương: chương đầu thường là dài nhất và kịch tính nhất, chương giữa chậm nhất và tình cảm nhất, chương cuối ngắn nhất và vui tươi nhất.

Concerto grosso: hình thức concerto thời kỳ Baroque, trong đó thành phần solo gồm một nhóm nhạc cụ hợp tấu chứ không phải một người.

Solo concerto: chỉ có một nhạc khí giữ vai trò độc tấu (solo), được ghi rõ trong tên nhạc phẩm. VD: Piano concerto, Concerto for Violin,…

Double concerto: có 2 nhạc khí thay phiên nhau độc tấu hoặc cùng song tấu đối đáp với dàn nhạc. VD: Double concerto của Brahms cho violin và cello.

Triple concerto: cũng như double concerto nhưng có 3 nhạc khí cùng chia xẻ vị trí solo. Ví dụ: Triple concerto của Beethoven viết cho violin, cello và piano.

Serenade có nguồn gốc từ tiếng Italia “sera” (buổi tối) và “serenata” (dạ khúc). Ban đầu dùng để chỉ những bản tình ca mà các chàng trai trẻ thường đứng hát, lúc chiều tà, dưới cửa sổ nhà cô gái mà mình theo đuổi. Về sau, thuật ngữ này được dùng để chỉ các bản nhạc viết cho dàn nhạc nhỏ, có tính chất giải trí và đặc biệt là để biểu diễn ngoài trời.

POLYPHONIC & HOMOPHONIC

Nghe bất kỳ đoạn nhạc nào, chúng ta cũng có thể gặp một trong các trường hợp sau: chỉ có một giai điệu, không có phụ họa; có nhiều giai điệu cùng lúc; có một giai điệu cùng hòa âm. Để mô tả các trường hợp đó người ta dùng khái niệm cấu trúc âm nhạc, nó biểu thị bao nhiêu lớp âm thanh bạn có thể nghe thấy cùng một lúc, bất kể đó là giai điệu hay hòa âm, và các lớp đó quan hệ với nhau như thế nào. Cấu trúc âm nhạc có 3 loại tương ứng với 3 trường hợp nêu trên.

Monophonic (đơn điệu): là cấu trúc chỉ có một giai điệu được thể hiện, có thể độc tấu hay hợp tấu. Polyphonic (phức điệu): là cấu trúc trong đó 2 hay nhiều giai điệu độc lập được trình tấu đồng thời, cạnh tranh nhau trong việc thu hút sự chú ý của người nghe. Để có thể thưởng thức trọn vẹn một tác phẩm có cấu trúc phức điệu, bạn có thể phải nghe nhiều lần, mỗi lần theo dõi một giai điệu.

Homophonic (chủ điệu): là cấu trúc trong đó có một giai điệu chính với phần hòa âm tô điểm cho chủ đề chính. Phần hòa âm này có thể biến đổi rất đa dạng, từ nhạc nền êm dịu đến những cơn sóng âm che lấp cả chủ đề chính. Khi phần hòa âm trỗi dậy tranh giành sự chú ý với chủ đề chính, cấu trúc âm nhạc trở thành vừa có tính chủ điệu vừa có tính phức điệu.

…VÀ NHỮNG CON SỐ

Có bao giờ bạn thắc mắc về ý nghĩa những ký tự chữ và số thường gặp ở cuối tên của nhiều tác phẩm nhạc cổ điển? Ví dụ như bản Symphony số 40 K550 của Mozart, hay bản Concerto Brandenburg số 1 BWV 1046 của Bach, hay bản Symphony số 6 Op.74 của Tchaikovsky? Nhìn có vẻ khó hiểu nhưng thực ra ý nghĩa của chúng rất đơn giản.

Mọi tác phẩm của các nhạc sỹ đều được lập chỉ mục và đánh số để biểu thị một cách tương đối thứ tự ra đời của chúng. Trong hầu hết trường hợp bạn sẽ gặp số chỉ mục Opus – viết tắt là Op. Opus là một từ la-tinh cổ có nghĩa là tác phẩm. Như vậy, bản Symphony số 6, Op.74 của Tchaikovsky là tác phẩm thứ 74 mà ông hoàn thành. Hệ thống số chỉ mục Opus được sử dụng cho các nhạc sỹ và tác phẩm từ thế kỷ 19 trở đi. Trước đó, không có một quy tắc nhất định nào.

Ngày nay, hàng trăm tác phẩm của J.S.Bach được tham chiếu theo một danh mục lập năm 1950 bởi Wolfgang Schmieder. Bản danh mục này có cái tên đọc trẹo cả lưỡi là: Thematisch Systemmatisches Verzeichnis der musikalischen Werke von Johann Sebastian Bach, may mắn sao nó được viết tắt thành Bach-Werke-Verzeichnis, đó chính là số chỉ mục BWV.

Trong những trường hợp khác, chữ viết tắt là tên của người đã tổng hợp, hệ thống hóa danh mục tác phẩm của một nhạc sỹ. Vài thập kỷ sau khi Mozart qua đời năm 1791, Ludwig Koechel đã bỏ nhiều thời gian và công sức để hệ thống hóa những tác phẩm của Mozart, do đó số chỉ mục K sau các tác phẩm này là lấy từ họ của Koechel.

Tuy nhiên cách này cũng gây nhầm lẫn khi những người sọan danh mục lại có chữ cái đầu họ giống nhau. Như các tác phẩm sọan cho đàn phím của Domenico Scarlatti cũng có số chỉ mục bắt đầu bằng chữ K nhưng không phải của Koechel mà là của Ralph Kirkpatrick – nhà âm nhạc học nổi tiếng thế kỷ 20.

Ngay cả số chỉ mục Opus không phải lúc nào cũng thể hiện đúng trình tự tác phẩm ra đời, bởi các số chỉ mục thường ứng với ngày tác phẩm được xuất bản lần đầu chứ không phải ngày nó được hòan thành. Vì vậy, nếu bạn hỏi ai đó: “Beethoven đã viết tác phẩm nào trước: bản Piano concerto số 1 Op.15 hay bản Piano concerto số 2 Op.19?”, ít người có thể trả lời đúng rằng: thực ra bản được gọi là “số 2” đã hòan thành trước nhưng lại xuất bản sau bản “số 1” .

Đến đây chắc bạn thấy những số K và Op. này thật rối rắm. Đừng lo, vì thực ra chúng chẳng quan trọng gì và không hề ảnh hưởng tới những cảm xúc mà âm nhạc mang lại cho bạn. Chúng chỉ có giá trị nếu bạn muốn lòe bạn bè chơi – thay vì bảo mình vừa nghe dàn nhạc giao hưởng Boston chơi bản symphony số 40 quen thuộc của Mozart, hãy nói tớ vừa nghe bản trình tấu tuyệt vời tác phẩm K550 và xem họ tròn xoe mắt như thế nào.

Mỗi thể loại nhạc sẽ có những đặc trưng riêng. Khi nghe nhạc và thưởng thức âm nhạc, những kiến thức âm nhạc này hy vọng sẽ làm cho các bạn có được sự cảm nhận đúng đắn và sâu sắc hơn.

I. Nhạc pop :

Nhạc Pop là một thể loại của nhạc đương đại và rất phổ biến trong làng nhạc đại chúng. Thuật ngữ này không cho biết một cách chính xác về thể loại nhạc hay âm thanh riêng lẻ nào mà nghĩa của nó lại rất khác nhau phụ thuộc vào từng khoảng thời gian trong lịch sử của nó và từng địa điểm khác nhau trên thế giới. Trong làng nhạc đại chúng thì nhạc Pop thường được phân biệt với các thể loại khác nhờ một số đặc điểm về phong cách nghệ thuật như nhịp nhảy hay nhịp phách, những giai điệu đơn giản dễ nghe, cùng với một số đoạn trong bài hát được lặp đi lặp lại. Ca từ trong nhạc Pop thường nói tới tình yêu, xúc cảm và sự nhảy múa. Là loại nhạc phổ biến (popular) hiện nay ở hầu hết các ca khúc như của Celine Dion, Madonna, Frank Sinatra, Brandy…Pop chú trọng nhiều hơn Rock về giai điệu và nhịp điệu, âm thanh cũng mềm hơn.

 II. Nhạc Country (đồng quê)

Trước hết, có thể hiểu ngay “nhạc Country” đó là nhạc đồng quê. Khi âm thanh và giai điệu nổi lên, người ta có thể hình dung đến những đồng cỏ bạc ngàn xanh mướt – với những chàng cao bồi miền Tây lãng du. Nói đúng hơn, nhạc Country gắn liền với một nển văn hoá cao bồi mà ở Mỹ chính là quê hương. Nhạc đồng quê ra đời ở Mỹ dựa trên nhạc thượng du miền Nam, chịu nhiều ảnh hưởng từ những hệ thống nhạc khác như Blues, Jazz. Loại nhạc này thường có giai điệu trầm buồn.

Nguồn gốc của chúng xuất phát từ những người dân Anh nhập cư đến Mỹ, họ mang theo những ca khúc Ballad Celtic với phần lời theo lối kể chuyện mộc mạc, bình dân. Nói khác đi, cội nguồn của nhạc nhạc country chính là những bài dân ca mà những người dân nhập cư từ Anh, Scotland, Iraland đã mang đến vùng núi Appalanchian ở miền Nam Mỹ vào thế kỷ 18 – 19. Dòng nhạc thanh cảnh, không cần nhiều nhạc cụ, đôi khi chỉ là một cây guitar; người ta vẫn say sưa hát. Nội dung đơn giản, chủ đề thường gặp ở nhạc Country là những triết lý nhỏ về cuộc sống, cuộc đời của những người lao động, sự cô đơn hay những niềm tin và các mối quan hệ trong gia đình.

Ngày nay, để đáp ứng thị hiếu của người nghe, các nhà sản xuất thường pha trộn giữa Country với nhạc Pop và Rock đã phần nào làm cho người nghe, nhất là giới trẻ, khó có thể nhận và phân biệt từng loại nhạc. Tuy nhiên, cũng phải nhờ họ mà nhạc nhạc Country không bị rơi vào sự lãng quên.

III. Nhạc Rock :

Còn gọi là Rock’N’ Roll, do Elvis Presley khai sinh từ thập kỷ 50.

Dựa trên tiết tấu của ca ba loại nhạc trước đó (Blues, Jazz, Country) nhưng Rock lại có tiết tấu mạnh và nhanh, thường sử dụng các loại nhạc cụ điện tử.

Rock chú ý tới hiệu ứng âm thanh của các nhạc cụ hơn là giọng hát.

“Folk rock” (rock dân ca) là loại rock nhẹ giống như “slow-rock”, “soft-rock”…

“Hard rock” là loại Rock nặng với tiết tấu dữ dội và âm thanh cực lớn, chát chúa. Cùng thể loại này là “heavy rock”, “heavy metal”.

Tất cả những ban nhạc nổi tiếng thập kỷ 60 đều bắt đầu bằng nhạc rock and roll. Đó là Beatles, Rolling Stones, The Kinds, The Who, Manfred Mann, The Animals.

IV. Nhạc R&B

R&B là viết tắt của Rhythm and Blues. Cũng có thể nói R&B là một nhánh rẽ lớn của thể loại nhạc Blues đã có từ trước đó khá lâu. R&B, thể loại nhạc có nguồn gốc từ cộng đồng người Phi da đen này đã phát sinh từ đầu thế kỉ 20 và trở thành một loại nhạc phổ biến trên nhiều quốc gia vào khoảng thập niên 40.

 

Đó cũng là thời gian những người châu Phi bị bắt đưa sang châu Mỹ sống tập trung tại miền Nam và sau đó họ đã có những cuộc chuyển cư hàng loạt đến vùng Trung, Bắc, Tây Mỹ. R&B đã cùng họ phát triển rộng ở khắp châu Mỹ. Những bản ghi âm chính thức đầu tiên được thực hiện vào năm 1938 và cho đến thập kỉ 60 người ta đã biết nhiều đến những cái tên như B.B. King, James Brown… Cũng trong khoảng thời gian đó, R&B phân hoá thành 3 luồng chính: Chicago Soul, Motown Sound và Southern Style phát triển khá mạnh mẽ. Thập niên 60 cũng có thể gọi là thời kì vàng son của thể loại nhạc này.

V. Dance

Nhạc khiêu vũ (hay còn gọi là nhạc dance, nhạc nhảy, nhạc sàn) là nhạc thường dùng để nhảy, múa là chính nhưng người ta cũng có thể dùng để nghe, lồng ghép…

VI. Nhạc Jazz

 

Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

VII. Nhạc Blues

Cùng với nhạc Jazz, nhạc Blues có nguồn gốc từ những bài ca lao động, tôn giáo và dân ca của người Mỹ da đen được người Mỹ da đen khởi xướng vào đầu thế kỷ 20. Nhạc Blues khá buồn, vì thế nên có tên Blues (buồn) Nhạc Jazz thường được biểu diễn bằng kèn, giai điệu réo rắt.

Khởi nguồn của Blues không đơn giản một cách chắc chắn như là đã được khắc lên đá. Trong một vài năm, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc… và thậm chí là bất cứ nét nhạc nào do các nghệ sỹ viết ra.

Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues

Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa.Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này.

Blues được sử dụng nhiều trong tất cả các loại nhạc phổ thông.

XIII. Flamenco

Flamenco là một loại hình nghệ thuật mang đậm phong cách đặc trưng của nền văn hoá Tây Ban Nha, tổng hợp từ ba thể loại : Cante, bài hát; Baile, vũ điệu, và Guitarra, nhạc công chơi guitar. Khi mới nghe Flamenco, ta dễ lầm tưởng đó chỉ là những giai điệu đơn giản được hoà trong tiếng gõ nhịp cùng những vũ nữ với bộ váy xoè nhiều lớp, nhưng thật sự đây là loại hình nghệ thuật độc đáo và tràn đầy rung cảm nghệ thuật.

Những người Gyspi ở miền Nam Tây Ban Nha được coi là người sáng tạo ra, tuy nhiên những bài hát và điệu nhảy dân gian Tây Ban Nha, cùng sự giao thoa của các nền văn hoá trong nhiều thế kỷ đã góp phần trực tiếp và gián tiếp cho sự hình thành của Flamenco. Flamenco sơ kỳ mới chỉ là những âm thanh cùng tiếng vỗ tay theo giai điệu, sau này mới có thêm biểu diễn guitar.Khác với vũ đạo Châu Âu, Flamenco mang hơi hướng phương Đông. Vũ công qua động tác và thần thái phải truyền tải được những ý tưởng, tình cảm và nội dung của ca khúc. Những nhịp điệu được kết hợp cùng tiếng gõ chân kỹ thuật, vì vậy giày nhảy của vũ công thường là loại đặc biệt với nhiều đinh tán ở đế giày. Y phục của người vũ nữ là những bộ váy xoè nhiều lớp, ôm sát người để tôn lên dáng điệu yêu kiều, uyển chuyển.

Ukulele là nhạc cụ xuất phát từ hòn đảo Hawaii (Hoa Kỹ) và được viết tắt là Uke. 

Là con cháu của họ đàn guitar, Ukulele có hình dạng giống đàn guitar thu nhỏ, thường mắc 4 dây nylon (hoặc ruột thú).

Ukulele phát sinh từ Thế Kỷ 19 như là một nhạc cụ bắt chước đàn cavaquinho hoặc braguinha và đàn rajão, và được những người định cư Bồ Đào Nha đem vào Hawaii. Nó được phổ biến mạnh ở số nơi tại Hoa Kỳ đầu Thế Kỷ 20, và từ đó nó lan toả ra thế giới.

Thường người ta dùng ukulele để đệm hát, đôi khi cũng độc tấu. Tiếng giọng và âm lượng của ukulele thay đổi theo kích thước và cấu tạo của nó. Tuy tiếng vang nhỏ, nhưng ukulele khi đệm nghe cũng réo rắt do âm sắc khá đặc biệt. Thường ukulele có 4 cỡ: soprano, concert, tenor, và baritone, cộng thêm một loại đặc biệt.

Phổ biến nhất là soprano ukulele chuẩn, là loại có kích thước nhỏ nhất, dài khoảng 53 cm (21″), thường có 12 đến 14 phím, và được lên dây Sol Do Mi La (GCEA).

To hơn một tí là concert ukulele, dài khoảng 58 cm (23″). Nó cũng được lên dây GCEA và thường có 14 đến 17 phím, nhưng vì thân đàn to hơn, nên âm thanh ấm hơn so với soprano ukulele. Ngoài ra, cần đàn cũng rộng bản hơn để phù hợp với bàn tay to.

Kiểu thứ ba là tenor ukulele, dài khoảng 66 cm (26″), gồm 17 đến 19 phím, và được chọn thích hợp để độc tấu. Nó cũng được lên dây GCEA.

Kiểu thứ tư là baritone ukulele, dài khoảng 76 cm (30″). Nó được lên dây Re Sol Si Mi (DGBE), nghĩa là giống 4 dây 1, 2, 3, 4 của guitar, hoặc ADF#B (gọi là lên dây theo Re) và thường có từ 19 đến 21 phím. Kiểu ukulele này có âm thanh ấm và đầy đặn nhất trong 4 kiểu.

Loại ukulele đặc biệt có tên là U-Bass. Nó được lên dây đúng theo các loại đàn bass truyền thống : Mi La Re Sol (EADG). Các dây đàn làm bằng vật liệu cao su dầy, cho âm thanh trầm, ấm rất riêng cho U-Bass. Nó có loại không phím và có phím.

Giới thiệu U-Bass

Dĩ nhiên còn có nhiều biến thể của ukulele như ukulele cộng hưởng (resonator ukulele), ukulele điện, và banjo ukulele là thông dụng nhất.

Resonator ukulele

Ukulele nhỏ nhắn xinh xinh và ít dây như vậy nên rất thích hợp cho các bé lứa tuổi nhi đồng. Dĩ nhiên, người lớn ghiền ukulele cũng không ít. Và đương nhiên cũng có những nghệ sĩ biểu diễn ukulele rất giỏi.

Chào BẠN, mình rất thích guitar và cũng đang định đăng kí học guitar tại nhà, nhưng có một điều ngược với người khác là mình thuận tay trái, khi cầm đàn thì phải cầm ngược lại. Vậy không biết là mình có thể học guitar được không?

 

www.daydanguitar.vn

Kim Ngân (nguyenkimngan93@…….)

Nội dung trả lời:

Chào bạn!

Thường thì những người thuận tay trái như bạn sẽ gặp phải một số trở ngại khi học guitar, vì hầu hết các loại đàn và các giáo trình giảng dạy, các thế bấm…đều được thiết kế cho người thuận tay phải.

Nhưng bạn cũng không cần phải quá lo lắng, bởi vì cũng có không thiếu những người thuận tay trái nhưng vẫn có thể trở thành những guitarist chuyện nghiệp, tất cả là do sự đam mê và chăm chỉ luyện tập.

Đối với trường hợp của bạn thì có 2 cách để bạn chọn: cách thứ nhất là bạn chọn tập guitar bằng tay phải như tất cả mọi người, điều này dĩ nhiên là khó nhưng không phải là không được.

Cũng giống như có rất nhiều người thuận tay trái nhưng khi ăn hay khi viết thì họ vẫn sử dụng tay phải.

Nếu bạn tập theo cách này thì sẽ dễ dàng hơn cho bạn trong việc sử dụng giáo trình cũng như các thế bấm.

Cách thứ hai là bạn đặt mua đàn guitar tay trái để tập, nhưng nếu theo cách này thì bạn sẽ khá vất vả trong việc đọc các giáo trình bởi vì như đã đề cập ở trên , hầu hết các giáo trình hiện giờ đều được thiết kế cho những người đánh guitar bằng tay phải.

Cho dù bạn chọn cách nào đi nữa thì các giảng viên dày dặn kinh nghiệm và môi trường học tập tốt tại Guitar Tài Năng Trẻ sẽ là sự hỗ trợ đắc lực và hiệu quả cho việc học guitar của bạn. Chúc bạn thành công!

Chơi guitar thành thạo từ khi 5 tuổi, Sungha Jung được mệnh danh là “Thần đồng guitar Hàn Quốc” và sớm trở nên nổi tiếng. Sungha Jung đã chinh phục khán giả Việt Nam ngay từ lần đầu tiên đến biểu diễn năm 2014.

Thần đồng guitar Hàn Quốc Sungha Jung tiếp tục quay lại biểu diễn trong tour 2015 của anh với 2 đêm duy nhất tại Nhà hát Tuổi trẻ (Hà Nội) vào ngày 18/4 và Nhạc viện Tp. HCM (Hồ Chí Minh) vào ngày 19/4.

Là đại diện châu Á xuất sắc của dòng fingerstyle guitar, chàng trai 19 tuổi Sungha Jung sẽ mang đến cho khán giả không gian âm nhạc mới lạ, trẻ trung, tinh tế, giàu cảm xúc với những bản nhạc tự sáng tác và bản chuyển soạn những tác phẩm kinh điển, hứa hẹn là sự kiện văn hóa khó thể bỏ qua với công chúng yêu nhạc và là điểm nhấn của sự phát triển phong trào fingerstyle guitar tại Việt Nam.

Thần đồng guitar Sungha Jung
Chơi guitar thành thạo từ khi 5 tuổi, Sungha Jung được mệnh danh là “Thần đồng guitar Hàn Quốc” và đã sớm trở nên nổi tiếng, đặc biệt trên YouTube với hơn 991 triệu lượt view và trên 3 triệu người theo dõi (tính đến tháng 4.2015). Trong số 15 giải thưởng anh đã đạt được trên YouTube, có đến 6 giải “No.1”. Tự sáng tác và chuyển soạn rất nhiều bản nhạc với phong cách đa dạng, Sungha Jung đã phát hành 6 album mà mới nhất là album “Two of Me”. Nhạc của anh dễ dàng làm say đắm lòng người, tiêu biểu như Felicity, River flows in you, Irony, On a brisk day, Flaming, The phantom of the opera, Haru haru… Trong số đó, bản cover nhạc phim “Cướp biển vùng Caribê” thu hút được nhiều sự chú ý nhất với trên 45 triệu lượt xem. Sungha Jung được mời hợp tác với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc và trên thế giới: 2EN1, G-Dragon, Kotaro Oshio, Trace Bundy, Andy McKee, Tommy Emmanuel Jason Mraz… và đã có tour diễn tại rất nhiều nước: Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Phần Lan, Đan Mạch, Pháp, Mỹ…

Học guitar tai nhà www.daydanguitar.vn
Sungha Jung sẽ có buổi biểu diễn tại Việt Nam vào 18-19/4
Với khán giả Việt Nam, Sungha Jung được biết đến và hâm mộ chủ yếu qua những bản nhạc trên YouTube trong suốt 10 năm qua. Anh cũng chính là nghệ sĩ fingerstyle guitar nước ngoài đầu tiên biểu diễn tại Việt Nam. Ban tổ chức hy vọng rằng sau những chương trình chất lượng quốc tế như thế này, dòng guitar độc tấu mới nhất Việt Nam – fingerstyle guitar sẽ ngày càng thu hút thêm nhiều người yêu thích.

www.hocdanguitar.edu.vn

Nhận gia sư đàn guitar tại nhà: www.daydanguitar.vn