Âm nhạc cổ điển

Âm nhạc cổ điển là một thuật ngữ mang một nghĩa rộng và có vẻ không chuẩn xác để chỉ thể loại âm nhạc “bác học” được sáng tác và bắt nguồn từ truyền thống âm nhạc nghệ thuật châu Âu, đặc biệt là giai đoạn từ 1000 đến 1900. Một thời kỳ lịch sử âm nhạc từ 1550 đến 1825 của giai đoạn này được gọi là thời kỳ âm nhạc thịnh hành.

Các tác phẩm âm nhạc cổ điển được phân chia theo các giai đoạn chính sau:

Trung cổ: thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi thể loại Thánh ca (Chant), còn gọi là đồng ca nhà thờ hay Thánh ca Gregory.

Phục hưng: khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.

Baroque: khoảng 1600-1760, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.

Cổ điển: khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.

Lãng mạn, 1815-1910: là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.

Thế kỷ 20: thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện Đại và Hậu Hiện Đại.

âm nhạc đương đại: thuật ngữ thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.

VỀ NHẠC CỤ VÀ THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

NHẠC CỤ

Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc cổ điển được chia thành 4 nhóm chính: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Sự phân loại này chỉ có tính quy ước tương đối. Với đàn piano, ta có thể xếp nó vào bộ dây vì chính dây đàn tạo ra âm thanh, nhưng ta cũng có thể xếp nó vào bộ gõ bởi vì ta phải gõ vào các phím đàn, đến nay người ta vẫn còn chưa thống nhất về chuyện này và các loại nhạc cụ có bàn phím được xếp vào một nhóm riêng, nhóm keyboard.

Nếu chọn tiêu chí phân chia khác, ta sẽ có các phân nhóm khác. Ví dụ, ta có thể chia các nhạc cụ thành 3 nhóm theo cách thức tạo ra âm thanh: làm dao động một sợi dây (guitar, violin), làm dao động cột khí trong 1 cái ống rỗng (các loại kèn, sáo), làm dao động một vật thể cứng (đàn đá, trống).

Tuy nhiên, để đơn giản, ta sẽ sử dụng cách phân chia cổ điển quen thuộc: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Bộ dây (Strings) gồm có: violin, viola, cello, double-bass. Đó là 4 nhạc cụ dây chủ yếu của dàn nhạc cổ điển. Ngoài ra còn những nhạc cụ dây khác như harp, guitar…

Bộ gỗ (Woodwinds) gồm có: flute, oboe, clarinet và bassoon. (Ngày nay nhiều nhạc cụ trong bộ gỗ cũng được làm bằng kim loại nhưng vẫn thuộc về phân nhóm cũ.)

Bộ đồng (Brass) gồm có: French horn (kèn săn), trumpet, trombone và tuba.

Bộ gõ (Percussions) gồm tất cả những gì có thể gõ vào để tạo ra âm thanh.

Keyboard: xếp vào nhóm này là các nhạc cụ được chơi bằng cách gõ/nhấn vào bàn phím–clavichord, harpsichord, piano, organ.

THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

SONATA

Thuật ngữ sonata xuất hiện vào cuối thế kỷ 16 để chỉ các tác phẩm khí nhạc – nhằm phân biệt với thanh nhạc: nếu một bản nhạc được trình diễn bằng nhạc cụ, nó là sonata; nếu nó được hát lên, nó là cantata. Tuy nhiên khi dàn nhạc ngày càng lớn hơn và các thể loại âm nhạc ngày càng nhiều hơn thì cách phân biệt đơn giản trên không còn thích hợp nữa.

Ngày nay, sonata có nghĩa là một tác phẩm khí nhạc – có thể có một hoặc nhiều chương – viết cho 1 hay 2 (đôi khi 3) nhạc khí. (Ngoại lệ: các bản strings sonata của Rossini hay Mendelssohn, viết cho dàn đàn dây).

Thời kỳ Baroque, sonata thường có 4 chương. Sonata thời kỳ Cổ điển thường có 3 chương. Tới thời kỳ Lãng mạn, khi các nhà soạn nhạc trở nên cá nhân chủ nghĩa hơn, thì kết cấu một bản sonata cũng tự do hơn (điển hình là bản “Sonata in B minor của Liszt”, chỉ có 1 chương dài 30 phút).

Lưu ý: Sonata form (thể sonata): cần phải phân biệt bản sonata với thể sonata.

–  Bản sonata là một nhạc phẩm trọn vẹn, gồm 1 hoặc nhiều chương.

– Thể sonata là quy tắc cấu trúc âm nhạc trong chương đầu tiên của bản sonata hay symphony, gồm 3 phần: exposition, development và recapitulation (tạm dịch: giới thiệu chủ đề – phát triển mở rộng xoay quanh các chủ đề – tóm tắt, kết luận)

SYMPHONY

Thời Baroque, bất kỳ nhạc phẩm nào soạn cho dàn nhạc đều được gọi là symphony. Bắt đầu từ thời kỳ Cổ điển (giữa thế kỷ XVIII) symphony là một tác phẩm qui mô soạn cho dàn nhạc lớn, nhằm khai thác sự phong phú về âm sắc và cường dộ âm thanh của dàn nhạc cổ điển. Một bản symphony thường dài khoảng 20-45 phút, chia làm 4 chương.

Về sau, symphony được dùng cho mọi tác phẩm soạn cho dàn nhạc lớn với cấu trúc tự do hơn, không nhất thiết phải gồm 4 chương.

CONCERTO (concerti)

Concerto là tác phẩm viết cho một hay một nhóm nhạc cụ diễn tấu với dàn nhạc, kết hợp nghệ thuật biểu cảm và trình độ kỹ thuật điêu luyện của nghệ sĩ solo với sự phong phú về âm sắc và cường độ âm thanh của dàn nhạc. Giống như symphony, bản concerto dài khoảng 20 – 45 phút, có từ 1-5 chương nhưng phổ biến nhất là có 3 chương: chương đầu thường là dài nhất và kịch tính nhất, chương giữa chậm nhất và tình cảm nhất, chương cuối ngắn nhất và vui tươi nhất.

Concerto grosso: hình thức concerto thời kỳ Baroque, trong đó thành phần solo gồm một nhóm nhạc cụ hợp tấu chứ không phải một người.

Solo concerto: chỉ có một nhạc khí giữ vai trò độc tấu (solo), được ghi rõ trong tên nhạc phẩm. VD: Piano concerto, Concerto for Violin,…

Double concerto: có 2 nhạc khí thay phiên nhau độc tấu hoặc cùng song tấu đối đáp với dàn nhạc. VD: Double concerto của Brahms cho violin và cello.

Triple concerto: cũng như double concerto nhưng có 3 nhạc khí cùng chia xẻ vị trí solo. Ví dụ: Triple concerto của Beethoven viết cho violin, cello và piano.

Serenade có nguồn gốc từ tiếng Italia “sera” (buổi tối) và “serenata” (dạ khúc). Ban đầu dùng để chỉ những bản tình ca mà các chàng trai trẻ thường đứng hát, lúc chiều tà, dưới cửa sổ nhà cô gái mà mình theo đuổi. Về sau, thuật ngữ này được dùng để chỉ các bản nhạc viết cho dàn nhạc nhỏ, có tính chất giải trí và đặc biệt là để biểu diễn ngoài trời.

POLYPHONIC & HOMOPHONIC

Nghe bất kỳ đoạn nhạc nào, chúng ta cũng có thể gặp một trong các trường hợp sau: chỉ có một giai điệu, không có phụ họa; có nhiều giai điệu cùng lúc; có một giai điệu cùng hòa âm. Để mô tả các trường hợp đó người ta dùng khái niệm cấu trúc âm nhạc, nó biểu thị bao nhiêu lớp âm thanh bạn có thể nghe thấy cùng một lúc, bất kể đó là giai điệu hay hòa âm, và các lớp đó quan hệ với nhau như thế nào. Cấu trúc âm nhạc có 3 loại tương ứng với 3 trường hợp nêu trên.

Monophonic (đơn điệu): là cấu trúc chỉ có một giai điệu được thể hiện, có thể độc tấu hay hợp tấu. Polyphonic (phức điệu): là cấu trúc trong đó 2 hay nhiều giai điệu độc lập được trình tấu đồng thời, cạnh tranh nhau trong việc thu hút sự chú ý của người nghe. Để có thể thưởng thức trọn vẹn một tác phẩm có cấu trúc phức điệu, bạn có thể phải nghe nhiều lần, mỗi lần theo dõi một giai điệu.

Homophonic (chủ điệu): là cấu trúc trong đó có một giai điệu chính với phần hòa âm tô điểm cho chủ đề chính. Phần hòa âm này có thể biến đổi rất đa dạng, từ nhạc nền êm dịu đến những cơn sóng âm che lấp cả chủ đề chính. Khi phần hòa âm trỗi dậy tranh giành sự chú ý với chủ đề chính, cấu trúc âm nhạc trở thành vừa có tính chủ điệu vừa có tính phức điệu.

…VÀ NHỮNG CON SỐ

Có bao giờ bạn thắc mắc về ý nghĩa những ký tự chữ và số thường gặp ở cuối tên của nhiều tác phẩm nhạc cổ điển? Ví dụ như bản Symphony số 40 K550 của Mozart, hay bản Concerto Brandenburg số 1 BWV 1046 của Bach, hay bản Symphony số 6 Op.74 của Tchaikovsky? Nhìn có vẻ khó hiểu nhưng thực ra ý nghĩa của chúng rất đơn giản.

Mọi tác phẩm của các nhạc sỹ đều được lập chỉ mục và đánh số để biểu thị một cách tương đối thứ tự ra đời của chúng. Trong hầu hết trường hợp bạn sẽ gặp số chỉ mục Opus – viết tắt là Op. Opus là một từ la-tinh cổ có nghĩa là tác phẩm. Như vậy, bản Symphony số 6, Op.74 của Tchaikovsky là tác phẩm thứ 74 mà ông hoàn thành. Hệ thống số chỉ mục Opus được sử dụng cho các nhạc sỹ và tác phẩm từ thế kỷ 19 trở đi. Trước đó, không có một quy tắc nhất định nào.

Ngày nay, hàng trăm tác phẩm của J.S.Bach được tham chiếu theo một danh mục lập năm 1950 bởi Wolfgang Schmieder. Bản danh mục này có cái tên đọc trẹo cả lưỡi là: Thematisch Systemmatisches Verzeichnis der musikalischen Werke von Johann Sebastian Bach, may mắn sao nó được viết tắt thành Bach-Werke-Verzeichnis, đó chính là số chỉ mục BWV.

Trong những trường hợp khác, chữ viết tắt là tên của người đã tổng hợp, hệ thống hóa danh mục tác phẩm của một nhạc sỹ. Vài thập kỷ sau khi Mozart qua đời năm 1791, Ludwig Koechel đã bỏ nhiều thời gian và công sức để hệ thống hóa những tác phẩm của Mozart, do đó số chỉ mục K sau các tác phẩm này là lấy từ họ của Koechel.

Tuy nhiên cách này cũng gây nhầm lẫn khi những người sọan danh mục lại có chữ cái đầu họ giống nhau. Như các tác phẩm sọan cho đàn phím của Domenico Scarlatti cũng có số chỉ mục bắt đầu bằng chữ K nhưng không phải của Koechel mà là của Ralph Kirkpatrick – nhà âm nhạc học nổi tiếng thế kỷ 20.

Ngay cả số chỉ mục Opus không phải lúc nào cũng thể hiện đúng trình tự tác phẩm ra đời, bởi các số chỉ mục thường ứng với ngày tác phẩm được xuất bản lần đầu chứ không phải ngày nó được hòan thành. Vì vậy, nếu bạn hỏi ai đó: “Beethoven đã viết tác phẩm nào trước: bản Piano concerto số 1 Op.15 hay bản Piano concerto số 2 Op.19?”, ít người có thể trả lời đúng rằng: thực ra bản được gọi là “số 2” đã hòan thành trước nhưng lại xuất bản sau bản “số 1” .

Đến đây chắc bạn thấy những số K và Op. này thật rối rắm. Đừng lo, vì thực ra chúng chẳng quan trọng gì và không hề ảnh hưởng tới những cảm xúc mà âm nhạc mang lại cho bạn. Chúng chỉ có giá trị nếu bạn muốn lòe bạn bè chơi – thay vì bảo mình vừa nghe dàn nhạc giao hưởng Boston chơi bản symphony số 40 quen thuộc của Mozart, hãy nói tớ vừa nghe bản trình tấu tuyệt vời tác phẩm K550 và xem họ tròn xoe mắt như thế nào.

Post Navigation